Công nghiệp Kiên Giang trên đường phát triển
(16:26 | 10/10/2018)

          Kiên Giang là tỉnh tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc Việt Nam, có diện tích tự nhiên trên 6.300 km2. Phía Đông Bắc giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang; Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; Phía Tây Nam là biển Tây, giáp với vùng biển của các nước Campuchia, Thái Lan và Malaysia. Phía Bắc giáp Campuchia, với đường biên giới trên đất liền dài 56,8 km. Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 2 thành phố và 13 huyện. Thành phố Rạch Giá và huyện Phú Quốc là đô thị loại 2, đang là những đô thị phát triển năng động nhất trong khu vực. Tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên - xã hội đặc biệt, vừa có đồng bằng, đồi núi, hải đảo, biên giới. Kiên Giang là cửa ngõ giao thương của nước ta kết nối với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới bằng đường hàng hải qua biển Tây, đường hàng không qua Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc và Cảng hàng không Rạch Giá; đường bộ với cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên và Cửa khẩu Quốc gia Giang Thành… Sự đa dạng, phong phú về tài nguyên, thiên nhiên của Kiên Giang là điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, trong đó có phát triển công nghiệp.

Từ năm 2001 đến nay, qua mỗi kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, tỉnh Kiên Giang đều đạt mức tăng trưởng kinh tế GRDP từ 10,35 đến 11,64%. Đáng chú ý là giai đoạn 2011-2015, Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng Kiên Giang vẫn đạt mức tăng trưởng bình quân trên 10%, trong khi đó, mức tăng trưởng bình quân cả nước chỉ đạt 5,88%. Đó là thành tựu rất quan trọng mang lại từ phát triển khá mạnh về lĩnh vực công nghiệp của tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn này.

Gần đây nhất là năm 2017, tuy còn nhiều khó khăn, nhưng Kiên Giang vẫn giữ đà tăng trưởng kinh tế khá cao. Ngoài các ngành công nghiệp truyền thống như sản xuất Ximăng, Clinker, chế biến nông sản, thủy sản, còn có một số ngành hàng mới là chế biến thực phẩm, da giầy, may mặc…đã góp phần cho sản xuất công nghiệp cả năm đạt trên 40 ngàn tỷ đồng, tăng 8%.

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Kiên Giang có 5 khu công nghiệp nằm trong Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Đó là các khu công nghiệp: Thạnh Lộc, Thuận Yên, Xẽo Rô, Kiên Lương 2 và Tắc Cậu. Ngoài ra, Kiên Giang còn có 24 cụm công nghiệp được quy hoạch ở nhiều địa phương trong tỉnh, định hướng phát triển đến năm 2025 với tổng diện tích trên 1.000 ha. Đến nay, KCN Thạnh Lộc đã thu hút 23 dự án đầu tư với tổng diện tích thuê đất là trên 80ha, tổng nguồn vốn đầu tư là hơn 4.000 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy giai đoạn 1 của KCN Thạnh Lộc đạt 74%. Trong đó, có 05 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, 08 dự án cấp phép đầu tư và triển khai dự án, 05 dự án đang thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, 03 dự án đã thỏa thuận đầu tư đang chờ giải phóng mặt bằng để giao đất. Trong giai đoạn 2006-2015, các cơ sở doanh nghiệp của công nghiệp sản xuất VLXD trên địa bàn tỉnh tăng nhanh nhất trong 8 nhóm ngành công nghiệp, đạt 3,3 lần. Trong 19 doanh nghiệp sản xuất VLXD, có 5 doanh nghiệp quy mô nguồn vốn khá lớn từ 50 tỷ đến 200 tỷ đồng/DN. Hiện trên địa bàn tỉnh đang thực hiện đầu tư dự án sản xuất gạch tuynen Thông Thuận Kiên Giang với công suất 160 triệu viên gạch quy chuẩn/năm và 292,61 tỷ đồng vốn đầu tư (lớn nhất tỉnh, đang giải phóng mặt bằng).

Cùng với phát triển kinh tế-xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng, sản xuất tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Kiên Giang được thúc đẩy phát triển cả về số lượng và chất lượng, đa dạng hóa ngành nghề, tạo nhiều việc làm mới góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, tăng thêm thu nhập cho người dân.

Các cơ sở sản xuất TTCN với loại hình kinh tế hộ gia đình là chủ đạo với các ngành, nghề phong phú, đa dạng, có mặt trong hầu hết các ngành, lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên GIang. Số lượng cơ sở trên hộ gia đình sản xuất TTCN của tỉnh hiện nay chiếm đến 98%. Hiện nay, tỉnh Kiên Giang đang kêu gọi đầu tư với 64 danh mục dự án tập trung vào các lĩnh vực: Nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông sản, cấp nước và xử lý nước thải; năng lượng tái tạo; các khu du lịch; đầu tư hạ tầng giao thông và các khu, cụm công nghiệp. Để công nghiệp tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, UBND  tỉnh Kiên Giang đã ban hành Bản quy hoạch phát triển ngành công nghiệp đến năm 2025, có xét đến năm 2030 theo hướng bền vững, tăng trưởng cao, thân thiện môi trường; phát triển mạnh, đổi mới nhanh doanh nghiệp công nghiệp, nâng cao tính tập trung về quy mô sản xuất kinh doanh, tiềm lực tài chính và sức cạnh tranh. Theo quy hoạch phát triển này, mục tiêu giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh năm 2020 đạt hơn 62.000 tỷ đồng; năm 2025 đạt trên 118.000 tỷ đồng, tăng trưởng 13,8%/năm; đến năm 2030 đạt hơn 221.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 12,28%/năm.

Để thực hiện tốt mục tiêu này, Kiên Giang chủ động hợp tác và tích cực tham gia vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất công nghiệp của vùng, miền, cả nước, khu vực và quốc tế. Đầu tư chiều sâu, hướng vào xuất khẩu đối với các nhóm ngành, lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn có lợi thế về tài nguyên như sản xuất xi măng, chế biến nông, lâm, thủy sản và về nguồn nhân lực như dệt may, da giày. Phát triển mạnh, đầu tư có trọng điểm đối với nhóm công nghiệp hạ tầng điện, nước, môi trường,… công nghiệp cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu; thu hút đầu tư công nghiệp hóa dược, hóa dầu. Phát triển các khu, cụm công nghiệp và làng nghề tiểu thủ công nghiệp phù hợp với thế mạnh của mỗi tiểu vùng.

Theo đó, tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí phục vụ các ngành nông và ngư nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp chế biến tinh nông, thủy sản theo hướng xuất khẩu,…

Tiểu vùng Tây sông Hậu phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản, ưu tiên thu hút công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, lắp ráp cơ - điện tử,…

Tiểu vùng U Minh Thượng phát triển công nghiệp phục vụ nghề cá, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, ưu tiên phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án điện khí và khí áp thấp.

Tiểu vùng hải đảo ưu tiên phát triển công nghiệp gắn với kinh tế biển và du lịch, trọng tâm là công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp hỗ trợ ngành dầu khí.

Sơn Tùng