Trang thông tin điện tử Sở Công Thương tỉnh Kiên Giang

Thông tin thị trường

Xem với cỡ chữAA

THÔNG TINTHỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN, THỦY SẢN THẾ GIỚI (Từ ngày 21/8/2019 đến ngày 31/8/2019)

(16:54 | 30/08/2019)

Nông sản:

- Giá gạo:Từ ngày 21 đến ngày 31/8/2019, giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ giảm 5 USD/Tấn (còn 372-375 USD/tấn) do giá đồng rupee đang giảm xuống mức thấp nhất trong suốt 8 tháng qua; giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng 3 USD/Tấn (lên 423-430 USD/tấn, FOB Bangkok) do giá gạo tiếp tục leo thang trong tuần qua do quan ngại về nguồn cung giảm mạnh vẫn chưađược hạ xuống; giá gạo 5% tấm của Việt Nam giảm 5 USD/Tấn (còn 340 USD/tấn) so với kỳ trước,do nhu cầu từ Phillipines đang đi xuống.

- Thái Lan: Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chính sách trợ cấp 21 tỷ baht (15,8 nghìn tỷ VND) để hỗ trợ người nông dân trồng lúa của nước này ổn định tình hình sản xuất do thiệt hại từ hạn hán nghiêm trọng nhất diễn ra trong suốt một thập kỷ qua, cũng như tỷ giá đồng baht liên tục ở mức cao khiến cho nhu cầu nhập khẩu gạo Thái Lan đi xuống.Cụ thể về gói hỗ trợ 21 tỷ baht, chính phủ Thái Lan đảm bảo sẽ trả cho người nông dân ở một mức giá chuẩn trên lượng hàng nhất định, điều này sẽ giúp cho người dân tránh bị thiệt hại nếu giá lúa gạo giảm trong vụ thu hoạch. Theo đó, lúa jasmine trong khu vực được tưới tiêu tốt sẽ được trả ở mức 15.000 bath/tấn (11.3 triệu VND/tấn) với định mức cao nhất là 14 tấn/hộ. Lúa jasmine ngoài khu vực trên sẽ được trả ở mức 14.000 bath/tấn (10,5 triệu VND/tấn) với định mức cao nhất là 16 tấn/hộ. Lúa jasmine Prathum Thani sẽ được trả ở mức 11.000 bath/tấn (8,3 triệu VND/tấn) với định mức cao nhất là 25 tấn/hộ. Lúa nếp sẽ được trả ở mức 12.000 bath/tấn (9,0 triệu VND/tấn) với định mức cao nhất là 16 tấn/hộ. Các loại lúa tẻ khác sẽ được trả ở mức 10.000 bath/tấn (7,5 triệu VND/tấn) với định mức cao nhất là 30 tấn/hộ. Chính phủ Thái Lan ước tính hỗ trợ này sẽ có thể đem lại lợi ích cho khoảng gần 4 triệu nông dân. Bên cạnh đó, chính phủ còn dự tính có thể áp dụng thêm các biện pháp khẩn cấp khác bao gồm cả trợ cấp tiền mặt trực tiếp để giảm chi phí thu hoạch.

- Philippines:Cục Công nghệ Thực vật (BPI) thuộc Bộ Nông nghiệp của Phillippines đã công bố thống kê về các doanh nghiệp, các hợp tác xã, thương nhân và tổ chức trong nước đã nộp đơn xin giấy chứng nhận nhập khẩu vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS-IC) từ ngày 5/3 đến ngày 30/7/2019. BPI được chính phủ Phillippines ủy nhiệm việc phát hành SPS-IC từ sau khi Đạo luật Cộng hòa (RA) 11203 có hiệu lực từ 5/3/2019. Theo đó, cơ quan này sẽ cấp phép trên từng hồ sơ nhằm đảm bảo cho việc thông quan hàng hóa nhập khẩu với thời gian thụ lý trong vòng 7 ngày. Hồ sơ bị từ chối nghĩa là lô hàng đó mặc nhiên sẽ không được phép thông quan; các doanh nghiệp chỉ cần được cấp giấy SPS-IC từ BPI trước khi nhập khẩu gạo. Chế độ thương mại mới này đã giúp giảm các hạn chế liên quan đến nhập khẩu gạo đã diễn ra khi chế độ hạn ngạch điều tiết bởi Cơ quan Lương thực Quốc gia Phillipines còn được thi hành. Cục Thực vật Philippines (BPI) đã cấp 2.294 giấy chứng nhận đối với 208 thương nhân thuộc khối tư nhân cho 2,041 triệu tấn gạo xay xát thông quan nhập khẩu kể từ tháng 3 năm nay, theo trang tin Business Mirror.  Theo số liệu thống kê, tổng cộng đã có 173 nhà nhập khẩu đủ điều kiện đã sử dụng 1.041 hồ sơ SPS-IC và nhập khẩu 930,03 nghìn tấn gạo tính đến cuối tháng 7/2019. Nguồn nhập khẩu chủ yếu là từ Italy, Myanmar, Pakistan, Tây Ban Nha, Thái Lan và Việt Nam. Còn chỉ riêng trong tháng 7/2019, BPI đã phát hành 776 SPS-IC (75% tổng lượng SPS-IC đã phát hành) để mua 562.332,8 tấn gạo từ Myanmar, Tây Ban Nha, Thái Lan và Việt Nam.

- Ấn Độ: Các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ hối thúc chính phủ tìm cách cắt giảm thuế từ các quốc gia ASEAN tại cuộc đàm phán Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang diễn ra, theo The Business Business Line. Ấn Độ cạnh tranh với các nhà xuất khẩu gạo lớn của châu Á như Thái Lan, Việt Nam và Miến Điện tại các thị trường như Châu Phi. Nhưng, Ấn Độ không hiện diện đáng kể ở các thị trường Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai với khoảng 8-10 triệu tấn sau thị trường châu Phi, chiếm khoảng 15 triệu tấn mỗi năm. Theo chủ tịch của Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo: Thiếu sự tiếp cận thị trường, các hàng rào phi thuế quan và nghĩa vụ cao hơn do các thành viên ASEAN áp đặt đối với gạo Ấn Độ đã buộc các nhà xuất khẩu phải tập trung vào thị trường châu Phi. Các nước ASEAN áp thuế 50% đối với gạo Ấn Độ. Thuế áp dụng đối với gạo do các nước thành viên sản xuất là 35%. Có một sự khác biệt về thuế 15% đối với gạo Ấn Độ. Nếu được đàm phán tốt tại RCEP, nó có thể mở ra thị trường mới cho chúng tôi, ông nói thêm. Gạo Ấn Độ phải đối mặt với các rào cản phi thuế quan từ các quốc gia như Indonesia và Malaysia. Indonesia chỉ định thời gian giao hàng rất ngắn trong đấu thầu, điều này tốt cho các nước láng giềng như Thái Lan và Việt Nam, nhưng không tốt cho Ấn Độ. Rất khó để tham gia các phiên đấu thầu như vậy khi xem xét các vấn đề hậu cần. Tương tự, Malaysia thích nhập khẩu từ Pakistan do các kết nối tôn giáo.

- Miến Điện:Trong tháng 7/2019 Miến Điện xuất khẩu hơn 29.000 tấn gạo sang Trung Quốc thông qua biên giới, tăng khoảng 12% so với 26.000 tấn xuất khẩu trong tháng 6/2019, theo Eleven Myanmar trích dẫn từ Bộ Thương mại.Theo Liên đoàn Gạo Myanmar (MRF), Miến Điện đã xuất khẩu hơn 400.000 tấn gạo, trị giá hơn 100 triệu USD sang 36 quốc gia trong 10 tháng qua.

- Indonesia:Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) cho biết vụ chính năm 2019 của Indonesia đã hoàn tất vào tháng 4 vừa qua (chiếm khoảng 40% tổng sản lượng lúa cả năm) và năng suất ước đạt mức bình quân. Indonesia cũng đang bước vào thu hoạch vụ hai (chiếm khoảng 35% tổng sản lượng hàng năm). Vụ hai khởi đầu muộn do lượng mưa trong tháng 3-4 thấp, dưới mức bình quân. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết hiện nay rất thuận lợi và tính đến thời điểm cuối tháng Bảy, các báo cáo đều cho thấy tình hình lạc quan ở hầu hết các vùng sản xuất trên cả nước, hứa hẹn một vụ mùa năng suất. Sản lượng lúa vụ hai dự báo đạt mức bình quân.Vụ ba bắt đầu xuống giống vào tháng 8/2019 (chiếm khoảng 20% tổng sản lượng cả nước) và sẽ thu hoạch vào cuối năm nay. FAO dự báo nhập khẩu ngũ cốc (bao gồm cả gạo) trong năm thị trường 2019-20 (tháng 4/2019-tháng 3/2020) của Indonesia vào khoảng 12,9 triệu tấn, thấp hơn 10% so với năm trước đó và gần với mức bình quân 5 năm. Giá gạo tăng nhẹ theo thời vụ trong hai tháng đầu năm 2019 và giảm lại trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 do cung cấp cải thiện khi bước vào thời điểm thu hoạch vụ chính.

- Iran: Bộ Công nghiệp, Khai thác và Thương mại đã dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo theo mùa. Hàng năm, trong mùa thu hoạch lúa, chính phủ cấm nhập khẩu gạo để hỗ trợ nông dân và sản xuất trong nước.

Thủy sản:

- Mỹ: Theo Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) trong tháng 6/2019, cơ quan này đã từ chối 3 trong số 55 (5,5%) đơn hàng nhập khẩu thủy sản là mặt hàng tôm, do liên quan đến các chất kháng sinh bị cấm. Đây là tháng có số lô hàng thủy sản bị từ chối nhập khẩu thấp nhất kể từ tháng 10/2001 – thời điểm bắt đầu thống kê chỉ số này.Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019, có tổng cộng 47 đơn hàng tôm bị từ chối nhập khẩu vào thị trường Mỹ vì lý do liên quan đến kháng sinh bị cấm. So với tổng số 53 đơn hàng tôm bị từ chối nhập khẩu trong năm 2018 và 55 trong năm 2017, thì số lượng đơn hàng tôm bị từ chối trong 6 tháng đầu năm 2019 là rất cao. 3 đơn hàng tôm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ đến từ các nhà cung cấp UAE và Venezuela.

+ Nhập khẩu tôm từ UAE vào Mỹ hiện chiếm 14/47 đơn hàng tôm bị từ chối vì lý do liên quan đến kháng sinh bị cấm trong 6 tháng đầu năm 2019. Trong 4 tháng đầu năm 2019, Mỹ nhập khẩu 63,1 tấn (126.245 pound), trị giá 762 nghìn USD từ UAE. Như vậy, các đơn hàng tôm của UAE bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nhập khẩu tôm của Mỹ từ thị trường này,

+ Đơn hàng tôm của Venezuela bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng này là đơn hàng bị từ chối đầu tiên kể từ năm 2017 và là lần từ chối thứ hai kể từ năm 2008, Venezuela hiện là nhà cung cấp tôm đông lạnh, không tẩm bột lớn thứ 11 cho thị trường Mỹ với khối lượng đạt 1,7 nghìn tấn.

- Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ với 31 doanh nghiệp được hưởng mức thuế 0%.Có 2 doanh nghiệp là bị đơn bắt buộc trong POR13 là Công ty Sao Ta (Fimex VN) và Công ty Hải sản Nha Trang (Nha Trang Seaproduct Company) đều hưởng thuế 0%. Ngoài ra, 29 doanh nghiệp tôm là bị đơn tự nguyện cũng có mức thuế 0%.Đây là tin vui chung cho ngành tôm Việt, là động lực tốt để các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh XK tôm sang Mỹ.XK tôm Việt Nam sang Mỹ trong tháng 7 năm nay tăng 37,2% đạt 77 triệu USD. 7 tháng đầu năm nay, XK tôm sang thị trường này đạt 327,4 triệu USD, tăng 5%.Nhu cầu NK tôm của Mỹ từ Việt Nam đang dần hồi phục do tồn kho giảm trong khi Mỹ cũng đang giảm NK từ Ấn Độ, Thái Lan và giảm mạnh NK từ Trung Quốc.

- Đài Loan: Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Đài Loan những tháng cuối năm 2019 tiếp tục thuận lợi, do nhu cầu thi truyền phục vụ du lịch tăng mạnh.Cơ sở của dự báo là:

+ Tiêu thụ thủy sản của người tiêu dùng Đài Loan tăng là cơ hội cho Việt Nam mở rộng xuất khẩu hơn nữa vào thị trường này. Đài Loan có nhu cầu phẩm đa dạng và sức tiêu thụ hải sản cao gấp hơn 1,7 lần so với cầu. Trong những năm gần đây, khôi lượng sản phẩm thủy sả Loan có mức tăng trưởng ổn định hàng năm là 3%.

+ Nhập khẩu thủy sản của Đài Loan được dự báo sẽ phục hồi khi kinh tế cải thiện trong những các tháng cuối năm. Theo Viện nghiên cứu kinh tế Chung – Hua (CIER) tăng trưởng kinh tế Đài Loan 6 tháng cuối năm 2019 được dự báo tăng lên hơn 2% nhờ hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ nhu cầu nội địa.

+ Theo thống kê của Trade.gov.tw trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu hàng thủy sản của Đài Loan đạt 147,2 nghìn tấn, trị giá 652,3 triệu USD, giảm 0,3% về lượng nhưng tăng 0,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, nhập khẩu thủy sản của Đài Loan từ Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Na Uy, đạt 17.400 tấn, trị giá gần 49 triệu USD, tăng 23,7% về lượng và 18,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị phần hàng thủy sản của Việt Nam tại Đài Loan tăng mạnh.

Trong 6 tháng năm 2019, thị phần hàng thủy sản của Việt Nam tại Đài Loan mở rộng 2,3% về lượng và 1,6% về trị giá, hiện chiếm 11,8% về lượng và 7,5% về trị giá. Trong khi đó, thị phần của một số nhà cung cấp khác như Trung Quốc, Na Uy, Nhật Bản... bị thu hẹp.

Giá thủy sản nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam đạt gần thấp nhất trong số 10 thị trường cung cấp vào Đài Loan, đạt trung bình 2.810 USD/tấn, trong khi đó nhập khâu từ Trung Quốc có giá 3.370 USD/tấn; từ Na Uy đạt 7.775 USD/tấn; từ Nhật Bản đạt 11.537 USD/tấn; từ Inđônêxia đạt 3.049 USD/tấn; từ Chilê đạt 6.421 USD/tấn.

Surimi, cá ngừ là mặt hàng thủy sản của Việt Nam có triển vọng tăng cao về thị trường Đài Loan. Nhu cầu tiêu dùng của người Đài Loan rất đa dạng và truyền thông thích những sản phẩm cá và hải sản tươi sống. Tuy nhiên do sự giữa cuộc sống hàng ngày bận rộn cũng như thu nhập đời sống dân cư được cái Số lượng người mua hàng qua các siêu thị hiện đại tăng, nên nhu cầu về Các mặt hàng cá và hải sản đông lạnh đã qua chế biến) tăng cao hơn thời gian tới. Triển vọng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Đài Loan là rất lớn, khi hàng thủy sản của Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 11,8% thị phần tại thị trường này.

Với lợi thế giá rẻ và chất lượng các sản phẩm thủy sản ngày càng cao. Việt Nam đang là thị trường có tiềm năng tăng trưởng nhất có thể đạt các nhà cung cấp khác như Trung Quốc, Nauy, Indonesia – vốn là là những nhà cung cấp truyền thông cho Đài Loan.

Một số lưu ý khi xuất khẩu thủy sản vào Đài Loan:

Đài Loan là một thị trường không dễ thâm nhập do chủ trương duy trì các tập quán thị trường bản địa và buôn bán với bạn hàng truyền thống. Bên cạnh đó, Đài Loan cũng áp dụng những tiêu chuẩn, quy định khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm nghiệm kiểm dịch đối với hàng nông, lâm, thủy sản nhập khẩu. Những quy định này cũng thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi, gây không ít khó khăn cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Người dân Đài Loan thường sống cùng gia đình trong những căn hộ nhỏ và các khu chung cư thường có siêu thị mua sắm, nên hàng hóa được phân phối ở siêu thị là chính. Người Đài Loan thường ít dự trữ thực phẩm, do đó đóng gói hàng hóa nên nhỏ gọn, thiết kế đẹp mắt, kèm đầy đủ hướng dẫn sử dụng. Thu nhập ngày càng tăng, người tiêu dùng Đài Loan hướng tới thử nghiệm những sản phẩm mới, nên khi đưa hàng hóa vào Đài Loan, khâu quảng cáo, cung cấp thông tin rất quan trọng. Người tiêu dùng Đài Loan rất ít khi quan tâm đến giá cả khi sản phẩm đó được cung cấp đầy đủ thông tin.

Khi xuất khẩu thủy sản sang Đài Loan, doanh nghiệp Việt Nam cần thẩm định kỹ đối tác, phải có các điều kiện giao dịch rõ ràng (nhất là trong đảm bảo thanh toán). Các quy định về kiểm định, kiểm dịch của Đài Loan rất chặt chẽ nên hàng hóa luôn phải đảm bảo chất lượng, đầy đủ các chứng từ, chứng chỉ liên quan như C/O, giấy chứng nhận kiểm dịch...

Nguồn: Trang thông tin Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA); Bản Tin Nông lâm thủy sản – Bộ Công Thương; Thông tin Thị trường nông sản; Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP); Kinh tế & Tiêu dùng./.