Trang thông tin điện tử Sở Công Thương tỉnh Kiên Giang

Thông tin thị trường

Xem với cỡ chữAA

THÔNG TINTHỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN, THỦY SẢN THẾ GIỚI (Từ ngày 01/7/2019 đến ngày 10/7/2019)

(14:56 | 24/07/2019)

Gạo:

Giá gạo:Từ ngày 01 đến ngày 10/7/2019, giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ tăng 02 USD/tấn (lên 371 - 374 USD/tấn) so với kỳ trước, do đồng rupee tăng giá. Ấn Độ đã tăng 3,7% giá mua lúa gạo các giống phổ thông vụ mới từ nông dân trong nước, bộ trưởng nông nghiệp cho biết ngày 03/7/2019. Giá gạo 5% tấm của nhà xuất khẩu gạo lớn thứ hai - Thái Lan giảm 02 USD/Tấn (còn 395 - 413 USD/tấn, FOB Bangkok) so với kỳ trước. Giá gạo trong nước giảm do nhu cầu ảm đạm nhưng giá gạo xuất khẩu vẫn cao do tỷ giá đồng nội tệ mạnh đã làm cho gạo Thái Lan trở nên kém cạnh tranh hơn ở thị trường nước ngoài. 

Bangladesh: đã không thành công trong việc đạt được các thỏa thuận mới kể từ khi lệnh cấm xuất khẩu gạo được dỡ bỏ hồi tháng 5, với mục tiêu bán ra tới 1,5 triệu tấn để hỗ trợ nông dân sau khi giá trong nước giảm mạnh. Ngày 04/7/2019, Bangladesh đã ký thỏa thuận với Trung Quốc, một trong chín nội dung, trong đó một phần Trung Quốc sẽ cung cấp 2.500 tấn gạo cho các người tị nạn Rohingya ở Bangladesh.

Miến Điện và Trung Quốc: Liên đoàn Gạo Miến Điện (MRF) và Tập đoàn Ngũ cốc, Dầu và Thực phẩm Quốc gia Trung Quốc (COFCO)sẽ hợp tác trong việc phân loại các loại gạo phù hợp để xuất khẩu sang Trung Quốc theo thỏa thuận, có thể xuất khẩu tới 100.000 tấn gạo trắng 10% sang nước này. Bên cạnh việc cung cấp thông tin, Liên đoàn Gạo Miến Điện cũng sẽ hỗ trợ COFCO trong việc mua gạo. Theo thỏa thuận MRF-COFCO, các công ty được chọn đã được kiểm tra bởi hội đồng được thành lập từ các viên chức của Bộ Thương mại, MRF, các chuyên gia từ các lĩnh vực liên quan cũng như các viên chức chính phủ khác sẽ được phép xuất khẩu gạo sang Trung Quốc. Tổng cộng 103 nhà máy gạo thuộc sở hữu của 42 công ty đã xin cấp phép xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đã được kiểm tra.

Mỹ: ngày 03/7/2019, một nhóm thương mại thúc đẩy hoạt động bán hạt gạo của Mỹ cho biết một nhà nhập khẩu tư nhân Trung Quốc đã mua gạo Mỹ lần đầu tiên vào tuần trước, trong bối cảnh chiến tranh thương mại nổ ra giữa hai quốc gia. Nhà nhập khẩu Trung Quốc đã mua 02 container, khoảng 40 tấn gạo hạt vừa từ công ty có trụ sở tại California. Gạo Mỹ được xay xát và đóng gói cho người tiêu dùng và dịch vụ thực phẩm. Trung Quốc là một người mua chính đậu nành và thịt heo Mỹ trước khi cuộc chiến thương mại bắt đầu. Ngày 01/7/2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Trung Quốc đã đồng ý mua thêm nông sản mới từ Mỹ sau khi ông gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hội nghị G20 vào cuối tháng trước, nhưng việc thu mua các loại cây trồng xuất khẩu lớn cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Thỏa thuận mua bán gạo diễn ra sau khi Mỹ bán 544.000 tấn đậu nành cho Trung Quốc, được Bộ Nông nghiệp Mỹ xác nhận vào tuần trước. Đây cũng là vụ bán đậu nành lớn nhất từ Trung Quốc kể từ tháng 3. Trung Quốc là quốc gia trồng và tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, sản xuất 148,5 triệu tấn ngũ cốc trong năm tiếp thị 2018 - 2019 và nhập khẩu 3,5 triệu tấn. Mỹ đã sản xuất 7,1 triệu tấn gạo trong năm 2018 - 2019 và xuất khẩu dưới 3 triệu tấn. Bắc Kinh đã cho phép nhập khẩu gạo Mỹ vào tháng 7/2017 sau nhiều năm đàm phán. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp thương mại kéo dài gần một năm giữa hai nước đã thoả thuận đầu tiên.

Ấn Độ: lượng mưa cải thiện đáng kể trên nhiều vùng (đặc biệt là khu vực Tây Ấn): lo ngại nhu cầu suy yếu tiếp tục, đồng rupee mạnh hỗ trợ giá gạo, cuối tuần qua có khả năng bán ra 5 triệu tấn gạo tồn kho của Tập đoàn Lương thực Ấn Độ (FCI).

Thái Lan:ổn định nhờ đồng baht Thái ổn định, nhưng xuất khẩu gạo đang ở mức thấp, thử thách mục tiêu xuất khẩu 10 triệu tấn/năm: tình hình thời tiết cải thiện hứa hẹn mùa vụ 2019/2020 đầy lạc quan.

Pakistan:ổn định trở lại sau thời gian xuất khẩu trầm lắng, nguồn cung gạo chất lượng cao hạn chế và lo ngại về vấn đề ngân sách (có khả năng làm chi phí giao dịch tăng) là những yếu tố chi phối tâm lý thị trường: dự kiến thu hoạch vào tháng Tám, bắt đầu mùa vụ 2019/2020 sớm hơn.

Ai Cập: nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Trung Quốc trong tháng 5/2019 với 104.529 tấn, theo sau là Bờ Biển Ngà với 47.000 tấn, Guinea với 35.290 tấn, Hàn Quốc với 24.147 tấn, Sierra Leone với 23.690 tấn, Cameroon với 22.000 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ với 16.750 tấn và các nước khác với 69.256 tấn.

Trung Quốc: Trong 5 tháng đầu năm 2019, đã nhập khẩu 1,06 triệu tấn gạo, trị giá 564 triệu USD, giảm 56% về lượng và 59% về trị giá so với cùng kỳ. Trong tháng 5/2019, Trung Quốc đã nhập khẩu 206.191 tấn gạo, trị giá 104 triệu USD. Việt Nam vẫn là nguồn cung lớn nhất cho thị trường này trong tháng 5/2019 với 89.765 tấn, theo sau là Pakistan với 42.918 tấn, Thái Lan với 33.583 điểm, Miến Điện với 17.066 tấn, Campuchia với 12.655 tấn, Đài Loan với 9.450 tấn và các nước khác với 754 tấn.

Nam Phi: Trong 5 tháng đầu năm 2019, đã nhập khẩu 312.464 tấn gạo, giảm 25% so với con số 419.015 tấn cùng kỳ, theo dữ liệu Hải quan Nam Phi.

Thủy sản:

Việt Nam:Năm tháng đầu năm 2019, Việt Nam XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang 50 thị trường. EU, Nhật Bản và Mỹ là 3 thị trường lớn nhất chiếm 90% giá trị XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam, trong đó EU chiếm 68%, Nhật Bản chiếm 12% và Mỹ chiếm 10%. XK sang 2 thị trường chính là EU, Nhật Bản tăng trưởng dương nhưng XK sang các thị trường khác đều sụt giảm nên kết quả XK chung giảm nhẹ so với cùng kỳ. XK sang EU tập trung chủ yếu vào 3 thị trường Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Italy, chiếm 78% XK sang thị trường này. Trong đó XK sang Tây Ban Nha và Italy lần lượt tăng 12% và 25% so với cùng kỳ, trong khi XK sang Bồ Đào Nha giảm 3,6%. XK sang Nhật Bản, thị trường NK lớn thứ hai, đạt 4,4 triệu USD, tăng 69% so với cùng kỳ. Trong khi XK sang Trung Quốc và ASEAN giảm mạnh 3 con số, lần lượt 807% và 111%. Nhu cầu nhuyễn thể hai mảnh vỏ hiện đang rất mạnh và giá các sản phẩm đều tăng. Để tăng nhu cầu của người tiêu dùng trẻ, ngành này cần tăng cường đa dạng hóa sản phẩm và tận dụng ưu đãi từ các FTA như với Nhật Bản và EU.

Mỹ: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, XK tôm bao bột từ Việt Nam vào Mỹ 5 tháng đầu năm nay đạt 4.281 tấn, trị giá 30,9 triệu USD, tăng 53% về khối lượng và 48% về giá trị so với cùng kỳ. Năm tháng đầu năm nay, NK tôm bao bột của Mỹ đạt 17.748 tấn, trị giá 124,3 triệu USD, giảm 1% về khối lượng và tương đương về giá trị so với cùng kỳ. Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam là 3 nguồn cung chính tôm bao bột cho Mỹ, lần lượt chiếm 31%, 26%, và 25% tổng giá trị NK tôm bao bột của Mỹ. Tính tới tháng 5/2019, Trung Quốc XK 6.839 tấn, trị giá 38,3 triệu USD tôm bao bột sang Mỹ, giảm 33% về khối lượng và 36% về giá trị so với cùng kỳ. XK tôm bao bột từ Thái Lan sang Mỹ đạt 3.545 tấn, trị giá 32,6 triệu USD, tăng 62% về khối lượng và 49% về giá trị so với cùng kỳ. Trong 3 nguồn cung chính tôm bao bột cho Mỹ, Trung Quốc đang phải chịu thuế 25% do Mỹ áp với 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc từ hồi tháng 5/2019, dẫn tới sản lượng tôm bao bột cung cấp cho Mỹ sụt giảm mạnh. Các nhà NK Mỹ đang tìm các nguồn cung khác thay thế Trung Quốc. Xét về khả năng cạnh tranh của Thái Lan trên thị trường Mỹ đối với sản phẩm tôm bao bột, Thái Lan khó cạnh tranh với Trung Quốc do chi phí sản xuất cao. Giá XK tôm bao bột của Thái Lan luôn cao nhất so với Trung Quốc và Việt Nam. 5 tháng đầu năm nay, giá XK trung bình tôm bao bột từ Thái Lan đạt 9,2 USD/kg trong khi giá của Trung Quốc và Việt Nam lần lượt đạt 5,6 USD/kg và 7,2 USD/kg. Để giành thị phần từ Trung Quốc và Thái Lan, Việt Nam cần đầu tư dây chuyền sản xuất, cho ra sản phẩm có giá cạnh tranh. Trung Quốc hiện đang chiếm lĩnh thị trường Mỹ đối với sản phẩm tôm bao bột là nhờ chi phí sản xuất sản phẩm thấp, cung cấp hàng cho Mỹ với mức giá cạnh tranh nhất so với các nguồn cung đối thủ. Trong bối cảnh XK các sản phẩm tôm truyền thống của Việt Nam (như hàng IQF) sang Mỹ đang bị cạnh tranh mạnh từ Ấn Độ (lợi thế giá rẻ) và Indonesia (không phải chịu thuế chống bán phá giá). Tôm bao bột là mặt hàng có giá trị gia tăng tốt, tỉ suất lợi nhuận cao cộng với lực lượng lao động tỉ mỉ, cần mẫn, tập trung XK tôm bao bột sang Mỹ có thể là một kế hoạch hợp lý cho DN Việt Nam trong thời gian tới.

Các nước châu Á đang là các nhà cung cấp các sản phẩm cá thu ngừ, cá cam và cá minh thái đóng hộp kín ngâm nước muối, các sản phẩm được bán dưới tên cá ngừ thịt sáng (Chunk Light tuna), tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thực phẩm. Phổ biến nhất là các loài cá ngừ chấm (Euthynnus Anis) và cá ngừ chù (Auxis Thazard) được dùng để sản xuất các sản phẩm này. Trong quý I/2019, Mỹ chỉ NK 1.304 tấn từ Trung Quốc, bằng 1/3 khối lượng của cùng kỳ. Một cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nước có thể là một lý do lớn đằng sau sự sụt giảm này, vì thuế suất áp cho các mặt hàng này từ Trung Quốc đã tăng từ 4% lên 10%. Tuy nhiên, các sản phẩm này vẫn có giá thấp hơn đáng kể so với các sản phẩm cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng, hay cá ngừ vây dài truyền thông, những mặt hàng đang bị áp thuế suất 12,5%. Ngoài ra, sự sụt giảm trong quý đầu tiên này còn do sự sụt giảm NK từ các nước khác như Philippines và Thái Lan. Một số nhà NK đã liên tục bày tỏ sự quan ngại về chất lượng và nguồn gốc của các dòng sản phẩm này, đặc biệt là cá ngừ chấm và cá ngừ chù, những loài mà họ sợ rằng có thể bị khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Hiện tại, các mức thuế suất mà Tổng thống Mỹ Donald Trump áp cho các sản phẩm này của Trung Quốc dường như đã đảo ngược xu hướng này.

Nguồn: Trang thông tin Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA); Bản Tin Nông lâm thủy sản – Bộ Công Thương; Thông tin Thị trường nông sản; Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP)./.