Trang thông tin điện tử Sở Công Thương tỉnh Kiên Giang

Thông tin thị trường

Xem với cỡ chữAA

Tình hình thị trường trong tỉnh tháng 4 năm 2019

(07:19 | 07/05/2019)

Trong tháng 4 năm 2019, tình hình cung - cầu các mặt hàng trọng yếu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tương đối ổn định, hàng hóa phong phú đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,95% so tháng trước và tăng 2,45% so với cuối năm trước. Diễn biến giá các mặt hàng trọng yếu trong tháng như sau:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      

Lương thực:Giá lúa, gạo trong tỉnh tăng 50-600 đ/kg so với tháng trước. Giá lúa tươi thường (IR50404) ổn định (4.600-4.800 đ/kg); lúa hạt dài tăng 100-600 đ/kg (lên 4.800-5.500 đ/kg). Giá lúa khô thường (IR50404) tăng 100-400 đ/kg (lên 5.400-5.800 đ/kg); lúa dài khô tăng 50-400 đ/kg (lên 5.600-6.500 đ/kg). Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng 50-150 đ/kg so với tháng trước, loại I làm ra gạo 5% tấm tăng 50-150 đ/kg (lên 6.850-8.300 đ/kg), loại II làm ra gạo 25% tấm tăng 100 đ/kg (lên 6.675-6.800 đ/kg). Hiện, trên địa bàn tỉnh, diện tích lúa Đông Xuân 2018-2019 đã thu hoạch được 288.944 ha, đạt 99,85% diện tích gieo trồng, năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 6,92 tấn/ha; vụ lúa Hè Thu 2019, gieo trồng được 111.418/280.000 ha, đạt 39,79% diện tích gieo trồng.

Thực phẩm: Giá nhiều loại thực phẩm tươi sống tương đối ổn địnhso với tháng trước, như: thịt bò đùi (210.000-220.000 đ/kg); tôm sú nguyên liệu (205.000-210.000 đ/kg); thịt gà ta làm sẵn nguyên con (120.000-125.000 đ/kg); thịt vịt ta làm sẵn nguyên con (75.000-80.000 đ/kg);cá Điêu Hồng (45.000-50.000 đ/kg). Riêng,heo hơi tăng 1.000-2.000 đ/kg (lên 45.000-46.000 đ/kg), nhưng thịt heo đùi ổn định (80.000-85.000 đ/kg); cá lóc giảm 5.000 đ/kg (còn 45.000-50.000 đ/kg); trứng vịt lạt giảm 2.000 đ/chục (còn 16.000-22.000 đ/chục) so với tháng trước.

Hàng công nghệ thực phẩm và công nghiệp tiêu dùng:giá các loại đường ăn ổn định, như: đường RE Biên Hòa (18.000-21.000 đ/kg), đường kết tinh trắng (13.000-14.000 đ/kg); muối hột, bọt giá bán sĩ 2.000-3.000 đ/kg; muối bọt, muối Iod tại chợ 5.000-6.000 đ/kg, tại siêu thị là 7.500-8.000 đ/kg; dầu ăn giảm từ 200-1.400 đ/lít (còn 22.800-59.800 đ/lít); sữa đặc Ông Thọ tăng 1.000 đ/lon (lên 16.000-27.000 đ/lon). 

Xăng dầu: Trong tháng, giá xăng dầu có 02 lần tăng (ngày 02 và 17/4/2019) từ 1.410 – 2.740 đ/lít so với tháng trước, cụ thể: Giá xăng Ron A95 tăng 2.740 đ/lít (lên 21.650 đ/lít); xăng Ron E5 tăng 2.540 đ/lít (lên 20.090 đ/lít); dầu diezel (DO) tăng 1.600 đ/lít (lên 17.720 đ/lít); dầu lửa (KO) tăng 1.410 đ/lít (lên 16.580 đ/lít).

Khí dầu mỏ hoá lỏng: Giá gas đốt các loại tăng 10.000 đ/bình 12-13 kg so với tháng trước (lên 355.000-365.000 đ/bình từ 12-13 kg), do giá thế giới tăng 20 USD/Tấn (lên 525 USD/Tấn).

Vật liệu xây dựng: Giá sắt xây dựng phi 6 và 8 tăng 250-500 đ/kg (lên 15.000-16.170 đ/kg); xi măng các loại ổn định, bao PC30 lên 64.500-69.500 đ/bao, bao PC40 lên70.500-75.500 đ/bao, xi măng Vincem 73.000-80.500 đ/bao so với tháng trước.

Phân bón:Giá một số loại phân bón tương đối ổn định so với kỳ trước (DAP là 11.000-15.600 đ/kg). Riêng, NPK 20-20-15 giảm 100 đ/kg (còn 12.000-12.600 đ/kg); NPK 16-16-8 giảm 300 đ/kg (còn 9.000-9.500 đ/kg); Urê giảm 200 đ/kg (còn 7.200-7.500 đ/kg) so với kỳ trước.

Giá vàng 24 K bình quân giảm 33.000 đ/chỉ so với tháng trước, mua vào 3.605.000 đ/chỉ, bán ra 3.643.000 đ/chỉ.

Giá đô la Mỹ (USD: $) bình quân giảm9 Đ/$ so với tháng trước, giá mua vào 23.140 Đ/$, bán ra 23.250 Đ/$. 

Giá đồng tiền chung Châu Âu (EURO: €): Bình quân giảm 113-141 Đ/€ so với tháng trước, mua vào 25.817 Đ/€, bán ra 26.582 Đ/€./.