Phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2020

19/08/2016 | 00:00:00

Thực hiện Chương trình số 384/CTr-UBND ngày 22/8/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành chương trình phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản, thủy sản giai đoạn 2011- 2015, có xét đến năm 2020 và Chường trình hành động số 06-CTr/TU, ngày 08/3/2016 của Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2016-2020, trong đó phát triển công nghiệp chế biến nông hải sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang là một thế mạnh và có lợi thế cạnh tranh cao so trong nước và khu vực.

Qua 3 năm thực hiện Chương trình 384/CTr-UBND về phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản, thủy sản Kiên giang giai đoạn 2011-2015 đã mang lại những kết quả đó là: Giá trị sản xuất, chế biến nông, thủy sản đạt 23.797 tỷ đồng năm 2015 (giá so sánh 2010), tăng 157,57% so với năm 2010, đóng góp 65,05% vào tổng giá trị toàn ngành công nghiệp; một số mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh so với năm 2010 như hải sản đông tăng 547,08%, đồ hộp tăng 193,14%, mực đông, bạch tuộc đông tăng 122,33%,..Đến nay tỉnh đã hỗ trợ lãi suất vay đầu tư cho 02 dự án chế biến thủy sản, với tổng số tiền hỗ trợ là 5,07 tỷ đồng, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 23 triệu USD/năm.

Phát huy những thành tích đạt được trong những năm qua; đồng thời phấn đấu hoàn thành Nghị quyết Đại hội lần thứ X, trên cơ sở Chương trình 384, UBND tỉnh ban hành chương trình số 272/CTr-UBND, ngày 13/7/2016 về phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2020.

Chương trình được xác định mục tiêu chung đó là:

- Phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu, gắn với thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đồng thời gắn với vùng nguyên liệu và sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu, để phát triển những mặt hàng có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cao. Chú trọng tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị; xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nhất là các sản phẩm chủ lực của tỉnh.

- Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế so sánh về tiềm năng, khả năng cạnh tranh trong nước, khu vực và thế giới như: Gạo, tôm, thủy sản các loại,... Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu một cách hợp lý theo hướng nâng tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng, chế biến sâu, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước.

Phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2020

- Đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp cơ sở chế biến theo hướng ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; chương trình sản xuất sạch hơn nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), bảo vệ môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.

Về mục tiêu cụ thể đến năm 20120 là:

- Giá trị sản xuất ngành chế biến xuất khẩu đạt 48.963,70 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010), chiếm 80,21% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp; tốc độ tăng trưởng là 13,01%/năm trong giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X xác định kim ngạch xuất khẩu đạt 1 tỷ USD; một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu: Gạo các loại 1.000.000 tấn; tôm đông 6.400 tấn; cá đông 3.800 tấn; mực và bạch tuộc đông 15.000 tấn; hải sản đông khác 20.000 tấn; gỗ MDF 16.800 m3, giày da 13,2 triệu đôi; bia Sài gòn 15 triệu lít, nâng tỉ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đến 50%.

Để thực hiện tốt nội dung trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đưa ra một số giải pháp thực hiện:

Một là, về phát triển vùng nguyên liệu: Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phát triển bền vững. Đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tổ chức sản xuất nông nghiệp, thủy sản theo hướng liên kết sản xuất, áp dụng và được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay các tiêu chuẩn khác theo yêu cầu thị trường; tiếp cận và ứng dụng tiêu chuẩn qui chế truy xuất nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu, xây dựng thương hiệu sản phẩm; tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh.

Hai là, về phát triển cơ sở hạ tầng: Phát triển các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch. Trong đó tập trung xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp (Thạnh Lộc - Châu Thành, Thuận Yên - Hà Tiên và Xẻo Rô - An Biên); Trung tâm nghề cá của tỉnh, Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên. Đầu tư xây dựng đồng bộ, từng bước hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng giao thông như: Đường hành lang ven biển phía Nam (đoạn Hà Tiên - Rạch Giá), đường Hồ Chí Minh (đoạn Lộ Tẻ - Rạch Giá), Quốc lộ 63..., với phương châm đầu tư cơ sở hạ tầng đến đâu thì hoàn chỉnh hệ thống điện, nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động thu mua, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Ba là, về vốn và thu hút đầu tư: Hình thành các nguồn vốn tín dụng ưu đãi lãi suất, hoặc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản thực hiện đầu tư mới dự án, đầu tư đổi mới công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh - xuất khẩu; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn hoặc bảo lãnh vay vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính và hoàn thiện chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn để thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu.

Bốn là, về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: Chú trọng phát triển mô hình đào tạo tại chỗ, thu hút lực lượng lao động ở nông thôn vào các cơ sở chế biến đóng trên địa bàn. Thực hiện hợp tác, liên kết tạo cầu nối giữa các cơ sở, trường đào tạo với các doanh nghiệp để đào tạo, đào tạo lại, gắn đào tạo với sử dụng lao động tại chỗ. Lồng ghép nhu cầu đào tạo lao động với các chương trình đào tạo nghề của Trung ương, của tỉnh; tổ chức đào tạo lại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sản xuất, chế biến. Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý, đội ngũ doanh nhân về mọi mặt, từng bước chủ động thích ứng với sự biến động của thị trường và hội nhập; chú trọng hình thức chuyên gia tư vấn của các chuyên gia đầu ngành, các cán bộ chuyên môn giỏi trong và ngoài nước trong lĩnh vực phát triển ngành nghề chế biến xuất khẩu.

Năm là, về phát triển khoa học, công nghệ và môi trường: 

Cải tiến, đổi mới, phát triển, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp; đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm giá trị gia tăng; tăng cường ứng dụng chuyển giao công nghệ xử lý, bảo quản sau thu hoạch; nghiên cứu cải tiến đổi mới quy trình sản xuất, để nâng cao chất lượng, đảm bảo VSATTP các sản phẩm chế biến xuất khẩu; lựa chọn, áp dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng các thế hệ công nghệ phù hợp với tính chất và quy mô dự án. Không sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị đã qua sử dụng, gây ô nhiễm môi trường hoặc có suất tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu cao. Đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh của danh nghiệp.

Sáu là, về liên doanh, liên kết xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu: Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế, những thời cơ, thách thức khi Việt Nam tham gia cộng đồng ASEAN, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TTP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã và đang ký kết; đặc biệt những cam kết và các loại rào cản đối với các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh. Cung cấp, cập nhật thông tin về thị trường, cơ chế chính sách biên mậu; hướng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia trong tỉnh để đảm bảo ổn định và phòng tránh rủi ro trong hoạt động thương mại biên giới.

Sơn Tùng

  • Dai hoi dang cac cap
  • He thong cong xuat nhap khau
  • Lịch làm việc
  • Trang điều hành nội bộ
  • Dịch vụ công trực tuyến 1
  • đăng ký hồ sơ thương nhân
Tình hình công nghiệp và thương mại Kiên Giang hiện nay như thế nào?




Hỗ trợ trực tuyến

  • Quảng cáo phải 1
  • Quảng cáp phải 2